Tin tức

So sánh phương đông và phương tây cổ đại giống , khác nhau điều gì ?

Phương Đông và phương Tây nằm ở 2 châu lục khác nhau, vị trí địa lý ảnh hưởng đến...

(Xem thêm)

Phương Đông và phương Tây nằm ở 2 châu lục khác nhau, vị trí địa lý ảnh hưởng đến sự khác biệt từ chính trị, kinh tế và xã hội.

Những điểm khác biệt chính gồm :

Thời gian ra đời

  • Phương đông : Cuối thiên niên kỉ IV, đầu thiên niên kỉ IIITCN.
  • Phương tây: Đầu thiên niên kỷ I TCN.

Tần lớp xã hội

  • Phương đông: Vua, quý tộc, nông dân và nô lệ.
  • Phương tây: Nô lệ và nô chủ.

Thể chế nhà nước

  • Phương đông: Quân chủ chuyên chế cổ đại, có nhà vua là toàn quyền quyết định mọi việc.
  • Phương tây: Chế độ dân chủ, chính quyền thuộc về các công dân.

Những ngành kinh tế chính

  • Phương đông: Nông nghiệp thâm canh +thủ công nghiệp +chăn nuôi.
  • Phương tây: Thủ công nghiệp và thương nghiệp phát đạt.


Việt Vương Câu Tiễn là ai ?

Phan Thắm

Đã trả lời

Việt Vương Câu Tiễn – là một trong Ngũ Bá của lịch sử Trung Quốc( trị vì từ năm 496 TCN đến năm...

(Xem thêm)

Việt Vương Câu Tiễn – là một trong Ngũ Bá của lịch sử Trung Quốc( trị vì từ năm 496 TCN đến năm 465 TCN). Ông là vua nước Việt (ngày nay chính là Thượng Hải, Bắc tỉnh Chiết Giang và Nam tỉnh Giang Tô) cuối thời kỳ Xuân Thu. Ông sinh năm 520 TCN và mất năm 465 TCN.

1527786057-714-152689487145864-thumbnail_schema_article.jpg
Cổ kiếm 2.000 năm vẫn sáng loáng giúp Việt Vương Câu Tiễn diệt nước Ngô


Theo Sử Ký, Việt Vương Câu Tiễn là dòng dõi vua Thiếu Khang nhà Hạ, tên họ là Tự Câu Tiễn. Ông là con trai của Doãn Thường (Vương Doãn) – cháu đời thứ hai mươi của Thiếu Khang, em vua Hạ Trữ. 

Năm 504 TCN, sau khi Ngô vương Hạp Lư đánh bại nước Sở, trở thành một cường quốc ở phương Nam, bèn nảy sinh ý định mở rộng thế lực vào Trung Nguyên. Nhưng nước Việt một nước láng giềng và luôn có bất hòa với nước Ngô cũng dần dần trở nên lớn mạnh, đã tạo thành mối uy hiếp đối với hậu phương của nước Ngô. Năm 496 TCN, Doãn Thường (Vương Doãn) bị bệnh qua đời, Câu Tiễn lên nối ngôi. Hay tin, vua Ngô Hạp Lư bèn đem quân đánh nước Việt. Câu Tiễn mang quân ra chống cự. Ông ra lệnh cho những chiến binh quyết liều chết ra khiêu chiến. Họ dàn thành ba hàng, tiến đến trận tuyến quân Ngô, thét lên rồi tự đâm vào cổ. Quân Ngô bất ngờ nên không tập trung thì Câu Tiễn thúc quân Việt thừa cơ đánh úp. Quân Việt đại thắng quân Ngô ở thành Huề Lý. Vua Ngô Hạp Lư bị thương.

Quân Ngô thua to, bỏ chạy về nước. Hạp Lư bị trúng tên chết ở giữa đường tháo chạy. Trước khi chết, dặn con là Phù Sai phải báo thù nước Việt. Sau đó Phù Sai lên ngôi vua. Để tự răn mình về mối thù giết cha, Phù sai cử 1 người đứng trước cửa cung, mỗi khi nhà vua ra vào đều hô to rằng: “Phù Sai, ngươi đã quên mối thù nước Việt giết cha ngươi rồi ư?”. Mỗi lần như vậy, Phù Sai lại khóc và càng quyết tâm báo thù. Phù Sai lệnh cho Ngũ Tử Tư và Bá Hi khẩn trương thu nạp binh lính, thao luyện không ngừng để sau ba năm sẽ xuất quân trả thù nước Việt.

Hai năm sau Câu Tiễn được tin Ngô Phù Sai ngày đêm luyện quân sĩ, sắp sửa đánh Việt để trả thù. Dù Đại phu Phạm Lãi hết sức can ngăn:" Nước Ngô đã luyện tập binh mã trong hai năm, họ nóng lòng muốn báo thù, nên khí thế rất lớn mạnh, chúng ta chỉ nên giữ thành, chứ không ra nghênh chiến". nhưng Câu Tiễn không nghe, vẫn cất quân tiến đánh nhằm mục đích phủ đầu. Vì quá coi thường lực lượng quân Ngô nên quân Việt đã thất bại thẩm hại ở Phù Tiêu. Câu Tiễn chỉ còn lại 5000 quân còn lại giữ và trốn ở núi Cối Kê.

Phù Sai đuổi riết, bao vây chặt núi Cối Kê. Câu Tiễn cùng Đại phu Phạm Lãi tìm cách ứng phó. Phạm Lãi khuyên rằng nên dùng lời lẽ khiêm nhường, lấy lễ hậu cống nạp để lấy lòng vua Ngô; nếu vua Ngô không chịu thì phải thân hành đến hầu hạ để thể hiện lòng thành quy phục.

Câu Tiễn nghe theo,  ông sai Đại phu Văn Chủng đến cầu hòa với Ngô, nói Câu Tiễn nguyện làm thần tử. Phù Sai sắp ưng thuận thì Ngũ Tử Tư một mực can không nên theo. Đại phu Văn Chủng đành trở về báo lại với Câu Tiễn. Câu Tiễn muốn giết vợ con, đốt của cải châu báu, xông ra quyết tử một lần. Văn Chủng ngăn Câu Tiễn nên thông qua Bá Hi – tể tướng nước Ngô, là người ham mê lợi sắc, để lấy lòng Phù Sai.

Câu Tiễn đành phải xin đầu hàng, sai Chủng đem theo 1 tốp gái đẹp nhiều vật báu lẻn đến đưa cho Bá Hi. Bá Hi nhận rồi năm lần bảy lượt khuyên vua Ngô. Phù Sai nghe theo bất chấp cả Ngũ Tử Tư hết sức can ngăn, đồng ý lời thỉnh cầu của nước Việt, nhưng với điều kiện là hai vợ chồng Câu Tiễn phải được đưa sang nước Ngô chịu sự quản thúc. Câu Tiễn chẳng còn cách nào khác, đành phải phó thác việc lớn nhà nước cho đại thần Văn Chủng, rồi cùng Phạm Lãi lên đường sang nước Ngô phục dịch.

Ngô Vương Phù Sai sắp xếp cho hai vợ chồng Câu Tiễn ở trong một ngôi nhà đá bên cạnh mộ Tiên Vương Hạp Lư, bắt họ ngày ngày chăn ngựa, quần áo lam lũ, ăn toàn cám và rau dại. Việt Vương Câu Tiễn hàng ngày đi chăn ngựa, vợ ở nhà giặt giũ nấu cơm, còn Đại phu Phạm Lãi thì kiếm củi, họ tỏ ra rất an phận, nền nếp, một lòng một dạ cung kính đối với vua Ngô. Nhằm bày tỏ sụ khuất phục, lòng trung thành của mình, khi Phù Sai lâm bệnh, Câu Tiễn thậm trí còn nếm phân của Phù Sai để phán đoán bệnh tình, chính việc làm này khiến Ngô Vương Phù Sai rất cảm động và cho rằng Câu Tiễn đã thực lòng quy thuận mình. Được ba năm, liền phóng thích vợ chồng Câu Tiễn về nước không cần ở lại phục dịch nữa. Sau khi về đến nước Việt, Câu Tiễn liền gắng công xây dựng đất nước, chờ đợi thời cơ để rửa hận. Việt vương lo sợ bản thân mình thỏa mãn với cuộc sống xa hoa, mà làm nhụt ý chí báo thù rửa hận của mình, nên đã tự sắp xếp cho mình một môi trường sống rất gian khổ. Ông treo một chiếc mật ở giữa nhà ăn, trước khi ăn cơm đều nếm vị đắng của mật và tự nhắc nhở mình "Chớ quên nỗi nhục ở Cối Khê", còn ban đêm thì ngủ trên đống củi rơm chứ không nằm trên nhung lụa. Điển tích này chính là xuất xứ của câu thành ngữ "Nếm mật nằm gai" (ngọa tân – thường đảm).

Việt Vương Câu Tiễn tiếp tục tiến hành nhiều cải cách lớn. Ông hàng ngày đi làm ruộng, vợ ở nhà dệt vải, khuyến khích nông dân ra sức phát triển sản xuất, tăng thêm của cải cho nhà nước, quy định trong bảy năm liền không thu thuế, giảm gánh nặng cho nông dân. Đồng thời còn đặt ra chính sách dân số, người già không được lấy vợ trẻ, thanh niên không được lấy vợ già, sinh đẻ được nhà nước chiếu cố, cứ sinh con trai từ một đứa trở lên đều do nhà nước nuôi dưỡng. Chính nhờ những quyết sách đó, chỉ trong mấy năm mà dân số nước Việt tăng lên nhanh chóng, nhà nước cũng từ yếu chuyển sang mạnh. Việt Vương Câu Tiễn lại ra lệnh cho Phạm Lãi huấn luyện binh mã, Văn Chủng quản lý việc lớn nhà nước và không ngừng tiến cống cho nước Ngô, loại trừ được sự hoài nghi của Phù Sai, làm cho vua Ngô buông lỏng việc phòng bị đối với nước Việt, tình hình vẫn trong trạng thái hòa bình, nhưng nước Việt đã nhân cơ hội này trở nên ngày càng lớn mạnh. Cùng lúc, Phạm Lãi dùng mỹ nhân kế, đem mỹ nữ Tây Thi(một trongTứ Đại Mỹ Nhân của Trung Hoa) dâng cho Ngô Vương Phù Sai. Phù Sai nhất mực nuông chiều Tây Thi, ngày cày hoang dâm, xa xỉ, bỏ bê chính sự, giết hại cả trung thần là Ngũ Tử Tư (một trong những trụ cột chính của đất nước). Trong thời gian này, các quan chức của Việt Vương cũng phá hoại nội bộ của Ngô Quốc bằng các thủ đoạn hối lộ và tung tin thị phi. Nước Ngô dần suy yếu.

Trong khi đó, nước Việt sau 10 năm tiến hành phục hưng quân sự, kinh tế và cải cách chính trị, đã trở thành một quốc gia hùng mạnh. Ngô Vương Phù Sai tin tưởng sự quy phục của Việt Vương nên không chút đề phòng, mang quan lên Trung nguyên để giao tranh với 2 nước Tề và Tấn.

Để tranh ngôi bá chủ của nước Tấn nên đầu năm 483 TCN, Phù Sai họp chư hầu ở Hoằng Trì. Trong khi hội chư hầu chưa kết thúc thì tháng 6 năm đó, Việt Vương Câu Tiễn mang quân đánh úp nước Ngô. Thế tử nước Ngô là Cơ Hữu ra chống cự bị quân Việt bắt sống và tự sát. Quân Việt tiến vào nước Ngô.

Nước Ngô bị quân Việt xâm chiếm, mất Thế tử, khí thế giảm sút nghiêm trọng. Khi Phù Sai mang quân về nước, quân Ngô theo Phù Sai đi đường xa mỏi mệt, bị quân Việt đánh bại. Phù Sai phải mang nhiều của cải sai sứ sang giảng hòa với nước Việt. Tuy Câu Tiễn cho giảng hòa nhưng quân Ngô đã suy yếu hẳn, trong khi quân Việt ngày càng lớn mạnh hơn.

Năm 478 TCN, Câu Tiễn lại mang quân đánh Ngô. Hai bên giáp trận ở Lập Trạch. Quân Ngô đại bại. Năm 476 TCN, Câu Tiễn lại tấn công đánh bại Ngô lần thứ ba. Liên tục sau đó năm 475 TCN, Câu Tiễn lại mang quân đánh chiếm nước Ngô. Đến tháng 11 năm 473 TCN, quân Việt đại phá quân Ngô. Ngô Vương Phù Sai sau nhiều lần bại trận không còn khả năng kháng cự, sai Công Tôn Hùng sang gặp Việt Vương xin quy phục như nước Việt trước đây. Câu Tiễn định chấp nhận nhưng được Phạm Lãi can không nên. Vì vậy Ngô Vương Phù Sai phải đâm cổ tự sát.

Cuối cùng Việt Vương Câu Tiễn đã đánh bại hoàn toàn nước Ngô, tiêu diệt được Ngô Vương Phù Sai, rửa được cái nhục ở núi Cối Kê. Phù Sai tự vẫn không chịu đầu hàng, Câu Tiễn sai chôn Ngô Vương tử tế và giết thái tể Bá Hi phản chủ.

Sau khi Câu Tiễn đã bình định được nước Ngô, bèn đem quân về hướng Bắc, vượt sông Hoài cùng các nước chư hầu là nước Tề, nước Tấn, hội bàn ở Từ Châu, nộp cống cho nhà Chu. Vua nhà Chu là Nguyên Vương đã ban thịt đến Việt Vương Câu Tiễn, phong cho ông làm Bá.

Sau khi đã vượt qua phía nam sông Hoài, Câu Tiễn bèn lấy đất phía trên sông Hoài cho nước Sở, trả cho nước Tống vùng đất mà nước Ngô đã lấy của nước Tống và trả cho nước Lỗ dải đất một trăm dặm ở phía Đông sông Tứ. Khi đó quân của Việt Vương Câu Tiễn làm bá chủ ở phía Đông sông Giang, sông Hoài. Chư hầu đều mừng gọi Câu Tiễn là Bá Vương.

Nguyên nhân diễn biến ,kết cục của chiến tranh thế giới thứ nhất? 1914' 1918?

Nguyễn Thảo

Đã trả lời

Từ 1914-1918,thế giới đã phải trải qua một cuộc chiến tranh tàn khốc, hàng chục nước đã bị lôi cuốn vào vòng chiến,...

(Xem thêm)

Từ 1914-1918,thế giới đã phải trải qua một cuộc chiến tranh tàn khốc, hàng chục nước đã bị lôi cuốn vào vòng chiến, chủ yếu là các nước ở Châu Âu, gây nên những thiệt hai to lớn về người và của. Lịch sử gọi đó là cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Vì đâu mà cuộc chiến tranh này lại xảy ra, hãy cùng tìm hiểu rõ hơn về nguyên nhân, diễn biến, và kết cục của cuộc chiến tranh này .

Nguyên nhân của chiến tranh

- Cuối TK XIX - đầu TK XX , kinh tế và chính trị của các nước chủ nghĩa tư bản phát triển không đều, đã làm thay đổi sâu sắc so sánh lực lượng giữa các nước đế quốc. Mâu thuẫn về vấn đề thuộc địa giữa các nước đế quốc "trẻ" ( Mĩ , Đức, Nhật Bản ) với đế quốc "già " ( Anh, Pháp) là điều không tránh khỏi và ngày càng trở nên gay gắt. Đức, Nhật , Mĩ ráo riết chuẩn bị kế hoạch chiến tranh, chiến lược bành trướng nhằm giành thuộc địa. Vì vậy, ngay từ cuối TK XIX - đầu TK XX, các cuộc chiến tranh giành thuộc địa đã nổ ra ở nhiều nơi.

  • 1894-1895, chiến tranh Trung- Nhật, Nhật thôn tính Triều Tiên, Mãn Châu, Đài Loan, Bành Hồ
  • 1898, chiến tranh Mĩ -Tây Ban Nha, Mĩ chiếm Philippin,Cu Ba,..
  • 1899-1902, chiến tranh Anh-Bô Ơ, Anh chiếm Nam Phi
  • 1904-1905, chiến Tranh Nga- Nhật, Nhật gạt Nga và thống trị Triều Tiên, Mãn Trâu, nam đảo Xa-kha-lin.

- Đầu TK XX , Châu Âu hình thành hai khối đế quốc quân sự đối đầu nhau

  • Phe Liên minh: năm 1882,Đức cùng Aó-Hung,I-ta-li-a thành lập liên minh tay ba. Năm 1915, I-ta-li-a rời khỏi Liên minh chống lại Đức
  • Phe Hiệp ước: Anh, Pháp, Nga nhân nhượng lẫn nhau và kí những bản hiệp ước tay đôi, Pháp-Nga năm 1890, Anh-Pháp năm 1904, Anh- Nga năm 1907

Cả hai khối đều ra sức chạy đưa vũ trang chuẩn bị chiến tranh chia lại thế giới. Chính mâu thuấn giữa các nước đế quốc về vấn đề thuộc địa, trước tiên là đế quóc Anh và đế quốc Đức là nguyên nhân cơ bản dẫn tới chiến tranh.

- Nguyên nhân trực tiếp : 28-6-1914 thái tử Áo-Hung bị một phần tử Xéc- bi ám sát tại Bô-xni-a. Đức, Aó chớp lấy cơ hội này để gây chiến tranh.

Diễn biến của chiến tranh

Giai đoạn thứ nhất ( 1914- 1916 )

- Ngày 28-7-1914 Áo-Hung tuyên chiến với Xéc-bi

- Ngày 1-8, Đức tuyên chiến với Nga, 3-8 tuyên chiến với Pháp

- Ngày 4-8, Anh tuyên chiến với Đức

Chiến tranh đế quốc bùng nổ và nhanh chóng lan rộng thành chiến tranh thế giới.

- Mở đầu chiến tranh , ở mặt trận phía Tây , đêm ngày 3-8-1914 quân Đức tràn vào nước bỉ, sau đó đánh thọc sang Pháp, chặn con đường ra biển không cho quân Anh sang tiếp viện, Pari bị uy hiếp, quân Pháp có nguy cơ bị tiêu diệt.

Giữa lúc đó ở mặt trận phía Đông, Nga tấn công vào Đông Phổ, buộc Đức phải điều quân từ mặt trận phía Tây về chống lại quân Nga, Pari được cứu nguy.

- Đầu tháng 9-1914, Pháp phản công giành thắng lợi trên sông Mác-nơ. Quân Anh đổ bộ lên lục địa Châu Âu.

Kế hoạch của Đức bị thất bại, quân của hai bên rút về cầm cự Từ Biển Bắc tới biên giới Thụy Sĩ.

- Năm 1915, ở mặt trận phía Đông, quân Đức cùng quân Aó -Hung tấn công quyết liệt, định đè bẹp Nga nhưng không đạt mục đích. Cuối năm, hai bên ở thế cầm cự trên mawtjtraanj dài 1200km, từ sông Đơ-nhi-ép tới vịnh Ri-ga.

- Năm 1916, Đức chuyển hướng hoạt động sang mặt trận phía Tây, mở cuộc tấn công Véc- đoong , nhằm tiêu diệt quân chủ lực Pháp. Cuộc chiến diễn ra quyết liệt,kéo dài từ tháng 2 đến tháng 12-1916, gây nhiều thiệt hại nhưng quân Đức vẫn thất bại,buộc phải rút lui.

 Đức, Aó-Hung chuyển sang thế phòng ngự ở cả hai mặt trận.

Giai đoạn thứ hai (1917 - 1918 )

 - Tháng 2-1917, giai cấp vô sản lãnh đạo nhân dân Nga tiến hành cuộc cách mạng dân chủ tư sản thành công. Chế độ Nga hoàng bị lật đổ, chính phủ lâm thời tư sản được thành lập, tiếp tục theo đuổi chiến tranh.

Đức sử dụng phương tiện chiến tranh tàu ngầm, gây cho Anh nhiều thiệt hại.

- Ngày 2-4-1917, Mĩ tuyên  chiến với Đức, sự tham chiến của Mĩ có lợi cho Anh, Pháp ,Nga.

Trong năm 1917, các cuộc phản công của phe Hiệp ước đều không thành công.

- Tháng 11-1917, Lê-nin và Đảng Bôn-sê-vích lãnh đạo cuộc cách cách mạng xã hội chủ nghĩa- cách mạng tháng Mười Nga thành công. Nhà nước Xô viết ra đời.

- Ngày 3-3-1918, chính phủ Xô viết kí hòa ước Bret-li-top  với Đức, Nga rút khỏi chiến tranh đế quốc.

-Đầu năm 1918, Đức mở liên tiếp nhiều cuộc tấn công Pháp, Pa-ri một lần nữa bị uy hiếp.

- Tháng 7-1918, Mĩ đổ bộ quân vào châu Âu, Pháp, Anh quay lại phản công mạnh mẽ quân Đức trên nhiều mặt trận.

- Từ cuối tháng 9-1918, quân Đức liên tiếp thất bại, bỏ chạy khỏi lãnh thổ Pháp, Bỉ. Các nước đồn minh Đức liên tiếp đầu hàng: Bun-ga-ri ( 29-9), Thổ Nhĩ Kì     ( 30-10 ), Aó –Hung (2-11).

- Ngày 3-10-1918. Đức đề nghị thương lượng vơi Mĩ nhưng không được chấp nhận.

- Ngày 9-11-1918, cách mạng bùng nổ ở Đức,  lật đổ nền quân chủ.

- Ngày 11-11-1918, Đức phải kí kiệp định đầu hàng không điều kiện. Chiến tranh thế giới kết thúc với sự thất bại hoàn toàn về phe Đức, Aó- Hung.

Kết cục chiến tranh thế giới.

Chiến tranh thế giới thứ nhất ( 1914-1918) là một cuộc chiến tranh phi nghĩa, thất bại thuộc về phe Liên minh. Gây thiệt hại nặng về người và của:

  • 1,5 tỷ người bị lôi vào cuộc chiến tranh, 10 triệu người chết, 20 triệu người bị thương
  • Nền kinh tế châu Âu bị kiệt quệ, các nước trở thành con nợ của Mĩ, nhiều thành phố, làng mạc, cầu cống, đường sá, nhà máy bị phá hủy...
  • Bên cạnh đó, thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Mười Nga và sự thành lập nhà nước Xô Viết đánh dấu bước chuyển lớn trong cục diện chính trị thế giới.

Thời cổ đại có những quốc gia lớn nào ?

Linh Khánh Lê

Đã trả lời

Thời cổ đại là thời kì lịch sử đầu tiên của loài người cho đến trước thời trung đại. Thời

Thời cổ đại là thời kì lịch sử đầu tiên của loài người cho đến trước thời trung đại. Thời kì kết thúc của thời cổ đại là giai đoạn sụp đổ của đế quốc La Mã (khoảng năm 467 TCN). Thời cổ đại có những quốc gia lớn như sau:

- Quốc gia ở Phương Đông: Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc

- Quốc gia ở Phương Tây: Hy Lạp và Rôma